Tìm kiếm Nhận bản tin kiến trúc English
Thứ bảy, 25/10/2014, 22:13 GMT+7 Thông tin tòa soạn   |  Liên hệ quảng cáo   |  Đặt báo
 
Trang chủ
Tin tức - Sự kiện
Đô thị tương lai
Vấn đề quan tâm
Công nghệ vật liệu mới
Diễn đàn
Góc nhìn thời sự
Lý luận - Phê bình - Nghiên cứu
Giáo dục - Đào tạo
Doanh nghiệp - Dự án
Tác giả - Tác phẩm
Đô thị - Cuộc sống
Góc thiết kế
Địa phương: Tiềm năng & Phát triển
Nhìn ra thế giới
Sắc màu nội thất
Mục lục
 
 
Số người truy cập: 51157878
 
 
Diễn đàn
Đô thị ven biển – cái nhìn từ lợi thế tiềm ẩn 
Thiên nhiên đã ban tặng cho Việt Nam một dải duyên hải từ Bắc vào Nam, với khoảng hơn 3500km đường bờ biển, với các vịnh, bãi biển đẹp nổi tiếng và kì thú trong nước và quốc tế không những tiềm ẩn, hứa hẹn nhiều cho phát triển cảng, công nghiệp, dịch vụ du lịch, thể thao…

 

  

Nhận dạng và tiếp cận

 

Truyền thuyết xưa: Chuyện đẻ trăm trứng, con rồng cháu tiên, năm mươi người con lên rừng, năm mươi người con xuống biển... Ngay ở thuở hồng hoang ấy đã nói lên cái thế của dân tộc mình: Tựa lưng vào núi, hướng mặt ra biển để phát triển, để trường tồn! Không phải ngẫu nhiên một dải non sông Đất Việt từ Mũi Cà Mau đến Địa đầu Móng Cái mà cha ông ta đã dày công khai phá, dựng xây lại vươn dài theo biển.

 

Nằm ở giữa hai trục Bắc Nam và Đông Tây, ngã tư của các nền văn minh Trung Hoa và ấn Độ, trong quá trình phát triển, Việt Nam đã tiếp thu (có khi là cưỡng bức) nhiều yếu tố của hai nền văn hóa trên. Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa thì từ thế kỉ XVI, nhất là giữa thế kỉ XIX, cuộc giao thoa văn hóa Việt Nam và văn hóa Phương Tây đã đem lại cho Việt Nam lớp phù sa văn hóa mới. Nhờ đó, văn hóa Việt Nam đã có hai chuyển dịch lớn: thiên niên đầu công nguyên từ cơ tầng văn hóa Đông Nam á sang văn hóa Đông á; từ giữa thế kỉ XIX đến hết thế kỉ XX từ văn hoá khu vực sang văn hoá thế giới. Văn hóa Việt Nam dần dần trở thành một nền văn hóa hiện đại, hoà nhập thế giới... Chính sự chuyển dịch ấy đã tác động đến nhiều mặt của sự phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam. Trong đó có quá trình đô thị hóa mà bản thân hệ thống đô thị Việt Nam là một minh chứng cho sự chuyển dịch ấy. Bản chất đô thị hóa của Việt Nam không nằm ngoài các qui luật và xu hướng của tiến trình đô thị hóa tại các nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa và bản thân đô thị Việt Nam có những nét riêng biệt và dễ nhận biết bởi các yếu tố đặc trưng từ điều kiện tự nhiên; kinh tế - xã hội; văn hoá, truyền thống... đến cấu trúc đô thị và các thành phần cơ bản của đô thị.


 

Hệ thống đô thị Việt Nam đã được hình thành lâu đời, luôn gắn với Đất - Nước và con người Việt Nam. Từ dãy Hoàng Liên Sơn cánh cung phía Bắc đến dải Trường Sơn hùng vĩ phía Tây xuôi về phía biển, với hệ thống sông, suối phân bố tương đối đồng đều đổ ra biển Đông tạo nên những khoảng đồng bằng mầu mỡ…Và rồi cả một vùng duyên hải trù phú bừng lên những điểm dân cư thuần Việt gắn với sông nước, biển khơi. Những đô thị cổ như Vân Đồn, phố Hiến, Hà Nội, Huế, Hội An... là những dấu ấn ban đầu như thế.

           

Thiên nhiên đã ban tặng cho Việt Nam một dải duyên hải từ Bắc vào Nam, với khoảng hơn 3500km đường bờ biển, với các vịnh, bãi biển đẹp nổi tiếng và kì thú trong nước và quốc tế không những tiềm ẩn, hứa hẹn nhiều cho phát triển cảng, công nghiệp, dịch vụ du lịch, thể thao… mà còn cho các mối giao lưu, hợp tác trong nước và quốc tế như các vịnh Bái Tử Long, Hạ Long, Cam Ranh, Vân Phong, Mũi Né;… các bãi biển Trà Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò, Lăng Cô, Mĩ Khê, Cửa Đại, Nha Trang, Phương Mai, Vũng Tàu…

 

Không phải tình cờ hoặc ngẫu nhiên mà hệ thống đô thị ven biển được phân bố trải dài dường như đều khắp từ Bắc vào Nam cũng một phần do ý chí con người tạo dựng, nhưng phần cơ bản là do lợi thế thiên nhiên ban tặng. Bao đời nay cha ông ta đã dày công xây dựng tạo nên trên mảnh đất Việt hệ thống các đô thị, điểm dân cư nông thôn mà ở đó toát lên dấu ấn đầy ắp văn hóa, tinh thần và tâm hồn đất Việt. Và cũng theo đó, hệ thống đô thị ven biển của Việt Nam như Trà Cổ/Móng Cái; Cẩm Phả, Hạ Long; Đồ Sơn/Hải Phòng; Sầm Sơn/Thanh Hóa; Cửa Lò/Nghệ An; Đồng Hới/Quảng Bình; Đông Hà/Quảng Trị; Thuận An, Chân Mây, Lăng Cô/Thừa Thiên Huế; Đà Nẵng, Hội An; Vạn Tường/Quảng Ngãi; Qui Nhơn; Tuy Hoà; Nha Trang; Phan Rang - Tháp Chàm; Phan Thiết; Vũng Tàu; Phú Quốc; Côn Đảo… gắn với hệ thống cảng biển từ lâu đã tạo nên những điểm tiền tiêu, mở ra những cửa sổ hướng biển quan trọng trong mối giao lưu quốc gia, khu vực và quốc tế... và trong đó nhiều đô thị không những đã trở thành biểu trưng văn hóa Việt mà còn là di sản văn hóa thế giới như Huế, Hội An...

 

Lịch sử quá trình đô thị hóa Việt Nam cơ bản đã nhận dạng được các loại mô hình phát triển của các đô thị nói chung, các đô thị ven biển nói riêng mà chính nó đã và đang là nền tảng cho việc nghiên cứu điều chỉnh qui hoạch xây dựng và phát triển các đô thị này qua nhiều thời kì. Trong thực tế, đô thị Việt Nam nói chung, đô thị ven biển nói riêng được phân bố theo không gian tương ứng với hướng phát triển mở rộng của lãnh thổ (từ Bắc vào Nam) và tập trung chủ yếu dọc theo vùng đồng bằng ven biển (khu vực bồi đắp nhiều phù sa màu mỡ, nơi những con sông đổ dần ra biển...). Còn sự phân bố theo thời gian là từ khoảng thế kỉ V đến thế kỉ XX (qua các triều đại Lí, Trần, Hồ, Lê...).

 

Nhìn chung đô thị Việt Nam như là một sự chuyển tiếp kéo dài từ làng sang đô thị theo khái niệm phổ biến. Về bản chất chúng là phố thị gồm những dãy phố với những ngôi nhà ở kiểu ống, vừa là nơi sống, vừa là nơi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm... Điều này là có cơ sở, bởi trong thực tế, các đặc điểm cơ bản của đô thị Việt cổ truyền được biểu hiện ở mối quan hệ của hai yếu tố cấu thành là phần “đô” và phần “thị”. “Đô” là hình ảnh khái quát của những thành, dinh, trấn... và “thị” là hình ảnh những phố và phường... Cụ thể hơn thì các đặc điểm này còn biểu hiện ở các yếu tố: vị trí xây dựng các đô thị được xác định theo thuyết phong thuỷ, trên cơ sở địa hình và điều kiện tự nhiên. Các đô thị cận sông, ven biển cũng không tách rời các yếu tố tạm gọi là lợi thế trên, nhất là các yếu tố Đất và Nước…

 

Chẳng hạn, phố Hiến mà chúng ta được biết đến là một thị trấn sầm uất, là một thị cảng sông, lị sở của trấn Nam Sơn được hình thành từ thế kỉ XV. Giai đoạn phồn vinh của phố Hiến vào cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII. Phố Hiến đã từng là điểm dân cư trên bến dưới thuyền, có chợ, có phường... Hải Phòng, Đà Nẵng từ xa xưa đã là một hải cảng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế và phòng thủ đất nước…Do tính chất là một thương cảng, Hội An không là “thành thị” mà mang màu sắc một “thị phố” - đô thị cảng. Hội An hội đủ điều kiện để phát triển, đó là “một sự hội thủy, hội nhân và hội tư văn hoá”…

 

Khái niệm và xu hướng

 

                                                Cảm nhận về Hawaii – Thành phố nơi biển cả


Trên thế giới đã có nhiều đô thị ven biển chứng tỏ lợi thế và tầm vóc của mình trong phát triển kinh tế, xã hội và trở thành biểu tượng của quốc gia hoặc mang tầm cỡ khu vực hoặc quốc tế. Chẳng hạn như TP New York, San Diego, Seattle, Hawaii… (Hoa Kì); Vơlađivostoc… (Liên bang Nga); Thượng Hải, Thẩm Quyến, Hồng Kông, Ma Cao… (Trung Quốc); Cao Hùng, Đài Bắc… (Đài Loan); Tokyo… (Nhật Bản); Pattaya, Pukẹt… (Thái Lan); Manila (Philippin); Singapore;… ở một khía cạnh nào đó, ngoài mối quan hệ về đường bộ, đường hàng không, các đô thị ven biển còn có độc quyền cơ bản về giao lưu đường thuỷ và là cửa ngõ thông thương với các Đại dương gắn các Châu lục với nhau trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá.

 

Thực tế cho thấy, đô thị ven biển bao gồm cả hệ thống đô thị ven bờ các Châu lục và hệ thống các đô thị thuộc các đảo hoặc các quần đảo trên các Đại dương. Các đô thị ven biển thường là các đô thị gắn với các lợi thế từ vị trí xây dựng đến các nguồn lợi có từ kinh tế biển như các ngành công nghiệp đánh bắt, chế biến, nuôi trồng thuỷ, hải sản; công nghiệp, dịch vụ cảng, giao thông vận tải biển; công nghiệp dịch vụ du lịch, nghiên cứu khoa học; bảo vệ môi trường… và thường có chức năng tổng hợp hoặc chuyên ngành.

 

Trong quá trình phát triển của mỗi nước, mạng lưới đô thị nói chung, các đô thị ven biển nói riêng chiếm vai trò rất quan trọng không những về kinh tế, xã hội mà còn đảm bảo an ninh quốc phòng và phát triển bền vững. Bởi vậy, mỗi nước đều hoạch định chiến lược phát triển đô thị và điểm dân cư nông thôn, trong đó chú trọng các hành lang ven biển gắn với các khu kinh tế tổng hợp theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước mình nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế, xã hội và đô thị hóa có chất lượng hơn. Các tổ chức quốc tế lớn như Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Trung tâm Định cư con người (UNCHS - Habitat), Chương trình quản lí đô thị (UMP) của ba Châu Lục, Uỷ ban Kinh tế xã hội Khu vực Châu á - Thái Bình dương của Liên Hợp quốc (UNESCAP) và nhiều tổ chức khác của khu vực và các nước rất coi trọng và quan tâm đến tốc độ phát triển của quá trình đô thị hóa khu vực và toàn cầu...

 

Hiểu rõ và nhận thức đúng đắn vai trò và tầm quan trọng của đô thị hóa, trong đó có các đô thị ven biển, các nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển đã, đang và sẽ luôn chú trọng quan tâm đến những mặt tích cực để tận dụng mọi lợi thế của quá trình này. Đối với các nước kém phát triển muốn tạo ra những “cú huých” nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế thì cần thiết phải tạo ra các vùng, các khu vực kinh tế trọng điểm đóng vai trò là “đầu tàu” để lôi kéo, thúc đẩy nền kinh tế chung của quốc gia cùng phát triển... Để có được các vùng, các khu vực kinh tế này thì phải có các hạt nhân đủ mạnh về tiềm lực kinh tế, có mối quan hệ đa chiều, có cửa ngõ giao lưu rộng mở mà những hạt nhân đó chính là các đô thị, hoặc chùm các đô thị với đúng  nghĩa của nó trong bối cảnh nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh khốc liệt (chứ không phải các đô thị thuần  tuý theo khái niệm với chức năng hành chính...). Bởi vậy, các nước như Trung Quốc, Singapore, Philippin, Malaysia... trong chiến lược phát triển kinh tế của mình đã tạo ra được các vùng kinh tế trọng điểm trên cơ sở phân bố lại lực lượng sản xuất và cơ cấu lại nền kinh tế quốc dân, chọn ra được những “cửa sổ” hướng ngoại (như Thâm Quyến, San Dâu, Chu Hải của Trung Quốc; SuBic, Makar của Philippin...).

 

Hệ thống đô thị ven biển của Việt Nam chủ yếu tập trung dọc vùng duyên hải từ Bắc vào Nam (trải dài khoảng > 3500 km) trên cơ sở các tiểu vùng duyên hải cơ bản: vùng duyên hải Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Các tiểu vùng duyên hải này đóng vai trò là cửa ngõ hướng biển của các vùng kinh tế trọng điểm quốc gia, nối các hành lang kinh tế Bắc - Nam, Đông - Tây ra với biển, tạo nên thế và lực trong phát triển kinh tế, xã hội của từng vùng và trong phạm vi cả nước. Đây cũng chính là một trong những đặc điểm cơ bản của hệ thống đô thị ven biển của Việt Nam trong quá trình CNH - HĐH đất nước, cũng như quá trình hội nhập khu vực và quốc tế.

 

Trong định hướng và tầm nhìn chiến lược, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ được hoạch định bởi 8 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh với cửa ngõ hướng biển là vùng duyên hải Bắc Bộ bao gồm các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình (trong đó Quảng Ninh, Hải Phòng đóng vai trò chủ chốt); Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung (Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) với cửa ngõ hướng biển là vùng duyên hải Trung Bộ với các khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô, Chu Lai - Kì Hà, Dung Quất và khu kinh tế Nhơn Hội...làm hạt nhân; Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Tây Ninh, Bình Phước, Long An) với cửa ngõ hướng biển là TP Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu…

 

Đôi điều về thực trạng và bình luận

 

Qui hoạch phát triển các đô thị hoặc các chùm đô thị ven biển là một yêu cầu khách quan bởi tầm quan trọng, vị trí, vai trò của chúng trong phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng. Nhận thức được điều ấy, thời gian qua chúng ta đã làm được nhiều cho các đô thị ven biển như lập điều chỉnh qui hoạch chung các đô thị Hạ Long, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu… Qui hoạch một số khu kinh tế tổng hợp mà trong đó có các đô thị mới ven biển như Chân Mây, Vạn Tường, Nhơn Hội, Cam Hải Đông (khu vực Cam Ranh)… Tuy nhiên, từ bài học thực tiễn chúng ta chưa thể tự bằng lòng với những gì đã đạt được mà đôi khi hoặc có lúc chúng ta đã tự nhầm lẫn huyễn hoặc mình như là một mô hình mẫu trong qui hoạch xây dựng đối với các đô thị ven biển này. Dưới đây là một vài nhận xét, đánh giá sơ bộ:

 

1. Hạ Long, một đô thị trải dài bên bờ vịnh Hạ Long - một di sản thiên nhiên thế giới nổi tiếng, là một trong những trung tâm du lịch, nghỉ mát lớn của cả nước và có tầm cỡ quốc tế; là một thành phố công nghiệp - cảng nước sâu và là trung tâm thương mại, dịch vụ lớn trong vùng. Kịch tính cao nhất trong các kịch bản phát triển kinh tế, đô thị ở Hạ Long là việc khai thác nguồn tiềm năng đa dạng, phong phú của mình gắn với việc bảo tồn, phát huy gía trị vịnh Hạ Long - di sản thiên nhiên thế giới. Công nghiệp - Cảng biển nước sâu - Di sản thế giới vừa là cơ hội vừa là thách thức cho những ai yêu quí thành phố này. Thực tế, Hạ Long là đô thị lấn biển, nét đặc trưng của nó có lẽ chỉ tập trung vào khu vực Bãi Cháy, đảo Tuần Châu, khu lấn biển Hùng Thắng... cảnh quan vùng vịnh và vượt lên cả, ấn tượng hơn cả chắc hẳn sẽ là dáng vẻ thanh thoát của cây cầu dây văng vươn dài, vươn cao bắc ngang cửa Lục, soi mình xuống vịnh Hạ Long đang được khẩn trương hoàn thành... Tuy nhiên, các khu vực Bãi Cháy, đảo Tuần Châu, Hùng Thắng... nhìn chung từ qui hoạch đến kiến trúc công trình đều chưa đủ khả năng, sự hấp dẫn để tạo nên diện mạo đặc sắc của một đô thị ven biển có di sản thiên nhiên thế giới nổi tiếng, độc nhất vô nhị.

 

2. Đà Nẵng, một đô thị có vị trí đẹp bên bờ sông Hàn và bên bờ biển Đông. Thiên nhiên đã ưu đãi cho Đà Nẵng nhiều lợi thế về cảnh quan đẹp, nổi tiếng: từ “cổng trời” Hải Vân - “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”, Non Nước - Ngũ Hành Sơn đến bán đảo Sơn Trà tráng lệ. Nếu đứng từ “cổng trời” Hải Vân, nhìn xuôi về phía Nam nơi con sông Hàn chảy qua, đổ vào vùng cửa vịnh Đà Nẵng (với khoảng 30km bờ biển có nhiều bãi biển đẹp) mới cảm nhận hết vẻ quyến rũ mà thiên nhiên ban tặng cho thành phố này... Hơn nữa, Đà Nẵng lại nằm giữa vùng kề cận ba di sản văn hóa thế giới: Cố đô Huế, đô thị cổ Hội An và Thánh địa Mĩ Sơn… Đây là những lợi thế hiếm có của một đô thị ven biển.

 


Với tầm nhìn chiến lược, Đà Nẵng được xác định là một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của Miền Trung với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ; là thành phố cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về trung chuyển vận tải trong nước và quốc tế; trung tâm bưu chính viễn thông và tài chính - ngân hàng; một trong những trung tâm văn hóa - thể thao, giáo dục - đào tạo và công nghệ Miền Trung; là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh của khu vực Miền Trung và cả nước. (Trích Nghị quyết số 33 - NQ/TW, ngày 10/10/2003 của Bộ Chính Trị).

 

Với ý tưởng lấy vịnh Đà Nẵng và sông Hàn làm bố cục chủ đạo trong tổ chức không gian, đô thị Đà Nẵng được mở rộng không gian về phía Tây, Tây Bắc, Tây Nam, Nam và Đông Nam. Trước mắt ưu tiên phát triển theo hướng Tây Bắc, khu vực giữa quốc lộ 1A và đường Liên Chiểu - Thuận Phước (đường Nguyễn Tất Thành). Đồng thời mở rộng đô thị trên cơ sở xây dựng các đô thị vệ tinh, các thị trấn, thị tứ và phát triển kết cấu hạ tầng diện rộng để từng bước hình thành chùm đô thị vệ tinh Đà Nẵng... Phát triển các khu du lịch Nam Ô, Xuân Thiều, Mĩ Khê, Bắc Mĩ An (Purama), Non Nước...

 

Trong Hội thảo “Đà Nẵng - Qui hoạch, xây dựng và phát triển đến năm 2020” do các Hội Qui hoạch phát triển đô thị - Kiến trúc - Xây dựng tổ chức tại Đà Nẵng, tháng 12/2003 đã có nhiều ý kiến cho rằng: Trong thời gian rất ngắn, nhất là sau khi trực thuộc Trung ương, Đà Nẵng đã có những biến đổi to lớn, không ngừng, phát triển theo định hướng chung đã vạch ra nhiều năm trước đó và qui hoạch chung được chỉnh sửa theo diễn biến mới…; Đà Nẵng trong những năm qua đã chứng minh sự đúng đắn của qui hoạch chung, chứng minh tính thực tiễn của qui hoạch, qui hoạch đã đem lại đô thị mới, cuộc sống mới. Hàng chục vạn hộ gia đình đã được tái định cư trong trật tự và có kiểm soát trong qui hoạch (Tạp chí Qui hoạch - kiến trúc - xây dựng, Đà Nẵng 26/12/2003)…Đó là những tín hiệu đáng mừng cho những ai muốn tìm hiểu, học tập kinh nghiệm của Đà Nẵng về qui hoạch và quản lí xây dựng theo qui hoạch. Tuy nhiên, đó mới chỉ là mặt tích cực ở tại thời điểm tổ chức Hội thảo... bởi phía trước Đà Nẵng vẫn còn nhiều việc phải làm, phải suy ngẫm thấu đáo mới nhận thấy hết vấn đề... Liệu chúng ta đã thật hài lòng với những gì đã có? Thực tế, còn có ý kiến nghi ngờ về sự phát triển bền vững của đô thị này. Bởi Đà Nẵng dường như đang phát triển quá mạnh, quá “bạo”, đang làm mất đi hoặc biến dạng hệ sinh thái nội và ngoại vùng. Liệu Đà Nẵng có mắc phải những tồn tại giống như các đô thị khác (Nha Trang, Vũng Tàu) khi mở những tuyến đường đô thị quá lớn và đi quá gần sát với mép biển, tạo nên sự ngăn cách giữa biển và công trình (dịch vụ du lịch khách sạn, nhà hàng)? Diện mạo kiến trúc Đà Nẵng, kiến trúc đôi bờ sông Hàn ở đâu, nhất là kiến trúc trên tuyến đường mới mở dọc theo sông Hàn và ven biển ở phía Đông, có nét nào riêng, ấn tượng cho Đà Nẵng? Các dự án qui hoạch đô thị, du lịch (nhất là du lịch) có bị xé nhỏ, khu biệt làm ảnh hưởng đến tổng thể chung và liệu có được nhanh chóng lấp đầy?...

 

3. Theo Viện Hải dương học, vịnh Nha Trang rộng khoảng 420 km2, hình thành cách đây 18.000 năm, hội tụ đầy đủ một cách kì lạ tất cả những yếu tố để phát triển 5/6 ngành kinh tế biển quan trọng: cảng biển; giao thông vận tải hàng hải; nghề cá - nuôi trồng hải đặc sản; du lịch, nghỉ dưỡng; giải trí trên biển...

 

            Cảnh quan sông Hàn và bãi biển Mĩ Khê  - Nơi cát và sóng như đang tâm tình trò chuyện


Nha Trang, mùa thu lại về…Thành phố biển nổi tiếng, nếu nhìn tổng thể không gian chung, Nha Trang như một “con tôm hùm” mà phía bụng ôm lấy biển cả với nhiều đảo lớn nhỏ, đầu, lưng và đuôi được uốn cong bởi các dãy núi trùng điệp, Bãi Tiên, Hòn Khô, Hòn Sạn, Hòm Thơm, Hòn Chụt… như những hạt cườm trang điểm cho Nha Trang thêm lộng lẫy.

 

Đô thị Nha Trang với ý tưởng tổ chức không gian phát triển theo các hệ sinh thái du lịch và hành lang đô thị trên cơ sở khai thác các lợi thế về điều kiện tự nhiên, cảnh quan môi trường sinh thái vốn có. Các hệ sinh thái du lịch phải kể đến là: hệ sinh thái du lịch núi, sông, ven biển, biển, du lịch đảo và hải dương học. Bên cạnh đó là các hành lang dân cư đô thị, trung tâm hành chính, thương mại, dịch vụ công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.

 

Đã có nhiều ý kiến cho rằng: Nha Trang, đô thị của gió biển tuyệt đẹp đang tận dụng được những lợi thế tự nhiên của mình để làm giàu…Nha Trang đã “mở cửa” có thể đón những nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội xây dựng nên những cơ sở đủ tầm để đón khách như Ana Mandara Resort, Yasaka, Sunrise hay Hòn Ngọc Việt…

 

Tuy nhiên, Nha Trang vẫn là đô thị được qui hoạch cải tạo, xây dựng và phát triển trên cái nền của một đô thị có từ đầu thế kỉ XX, mà trước đó mới chỉ là những làng chài heo hút dọc theo cửa sông Cái… Và vì thế cái được và cái chưa được cũng dễ nhận ra. Một trong những ấn tượng khiến du khách “ngỡ ngàng” khi tới Nha Trang là những toà nhà “chọc trời” liên tiếp gắn vào nhau như bức tường thành dọc theo đường Trần Phú (VietNamNet)… Và tất nhiên, mô hình khai thác thế mạnh của biển bị chia cắt, cách biệt bởi một tuyến đường đô thị (có mặt cắt rộng như đường Trần Phú) chạy qua giữa một bên là các công trình kiến trúc như khách sạn, nhà hàng… và phía bên kia là bãi tắm biển đã tỏ ra có nhiều hạn chế trong khai thác, quản lí. Đặc biệt có rất nhiều hạn chế trong chất lượng tổ chức không gian, nhất là không gian với chức năng du lịch, nghỉ dưỡng…

 

4. Cũng như Nha Trang, Vũng Tàu từ lâu đã nổi tiếng là điểm đến của du lịch biển, có nhiều lợi thế về vị trí địa lí, về điều kiện tự nhiên, cảnh quan danh thắng, nhất là có nhiều bãi tắm đẹp và thơ mộng… Vũng Tàu có rất nhiều lợi thế và cơ hội phát triển kinh tế, xã hội và phát triển đô thị. Các tiềm năng và các chiến lược phát triển Quốc gia và của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là những tiền đề quan trọng cho sự phát triển của đô thị này.

 

Vũng Tàu là đô thị cấp vùng - cửa ngõ của Vùng duyên hải Miền Đông Nam Bộ và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; là một trung tâm kinh tế, dịch vụ và đầu mối giao thông quan trọng của vùng; là trung tâm du lịch, phát triển cảng và dịch vụ hàng hải, một trung tâm khai thác - dịch vụ dầu khí quốc gia; là một đô thị có vai trò quan trọng về an ninh quốc phòng và bảo vệ  môi trường biển Vùng Đông Nam Bộ.

 

Tính chất của đô thị Vũng Tàu là sự song hành giữa phát triển công nghiệp và phát triển du lịch, là việc khai thác kinh tế biển và bảo vệ môi trường biển. Bởi vậy Vũng Tàu cần phải hướng tới một mô hình  đô thị phát triển bền vững tương xứng với vị thế đặc biệt của nó. Theo đó, ý tưởng về định hướng phát triển không gian của Vũng Tàu tiếp tục được phát triển theo hướng không gian chủ đạo của một đô thị du lịch vùng duyên hải - đô thị sinh thái biển: bố cục đô thị dựa trên các vùng cảnh quan thiên nhiên chủ đạo là biển. Cấu trúc phát triển không gian đô thị theo hướng cơ cấu tuyến tính trên khu vực đô thị chính - bán đảo Vũng Tàu, các khu chức năng đô thị được phát triển theo các trục đường xương sống: trục phát triển công nghiệp 51A, trục chính đô thị 51B và trục du lịch 51C…

Trong những năm qua Vũng Tàu đã làm được nhiều, diện mạo đô thị đã thay đổi cơ bản về chất. Đô thị rộng, dài, khang trang và hấp dẫn hơn…Nhiều qui hoạch chi tiết các khu chức năng đô thị đã được nghiên cứu phê duyệt, đưa vào triển khai xây dựng (như Bãi Trước, Bãi Sau, khu trung tâm thành phố, các khu ở…); đường vòng núi Nhỏ, Bãi Trước và một phần núi Lớn, các trục đường quan trọng như 51C, Lê Hồng Phong, Nguyễn An Ninh…

 

Hiện nay, cũng như các đô thị khác, Vũng Tàu đang có những thách thức gặp phải bởi sự cạnh tranh giữa các đô thị trong khu vực để phát triển Đô thị - Công nghiệp - Du lịch; sự phát triển chung đô thị, phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường… Điều đặc biệt cần lưu ý là các dự án phát triển du lịch có lúc dường như bị chững lại (nếu không muốn nói là bị “đóng băng”). Giống như Nha Trang, Đà Nẵng và một số đô thị ven biển khác, Vũng Tàu cũng mắc phải là việc mở các tuyến đường đô thị kết hợp dịch vụ du lịch qua khu vực Bãi Trước, Bãi Sau với mặt cắt lớn và rất gần với biển, tạo nên sự giao cắt giữa khu vực bãi tắm và công trình… Diện mạo đô thị Vũng Tàu nếu không nương tựa vào các đặc điểm của điều kiện tự nhiên (như Núi Lớn, Núi Nhỏ…) chắc khó nhận ra được đâu là dấu ấn riêng…

 

Thay lời kết

 

Đô thị Việt Nam, trong đó có các đô thị ven biển những năm gần đây đã có nhiều biến đổi theo chiều hướng tích cực. Đô thị đã rộng, dài hơn và đang cố vươn tới sự hoàn thiện, đồng bộ hơn về nhiều mặt... Tuy nhiên, sẽ là một thất bại, nếu công tác qui hoạch đô thị không góp phần tạo  ra nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, nếu mỗi đô thị Việt Nam, trong đó có các đô thị ven biển không tồn tại cái đẹp riêng, có cá tính, mang tính cạnh tranh cao bởi sự hấp dẫn và năng động mà thế mạnh tiềm ẩn của mỗi vùng cụ thể mang lại.

 

Với lợi thế tiềm ẩn, các đô thị, các chùm đô thị ven biển đã đến lúc phải được đặt lên “bàn cân” để xem xét như một chỉnh thể trong tầm nhìn chiến lược Quốc gia, như những cửa ngõ quan trọng để giao lưu và hội nhập với khu vực và Quốc tế. Từ nhận thức và thực tiễn qui hoạch xây dựng, phát triển các đô thị, các chùm đô thị ven biển của Việt Nam, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét và kiến nghị sau:

 

- Thiếu tầm nhìn chiến lược cho sự phát triển hệ thống các đô thị, các chùm đô thị ven biển trong chiến lược tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020. Nhất là các đô thị, các chùm đô thị ven biển đóng vai trò chủ chốt, là cửa ngõ quan trọng trong các vùng kinh tế trọng điểm và các vùng khác của cả nước để giao lưu và hội nhập với khu vực và Quốc tế;

 

- Chưa có kinh nghiệm và lí luận về qui hoạch xây dựng đối với các đô thị, các chùm đô thị ven biển;

 

- Chưa tạo dựng được dấu ấn riêng cho các đô thị, các chùm đô thị ven biển trên cơ sở khai thác những lợi thế tiềm ẩn về vị trí, điều kiện tự nhiên, văn  hóa - lịch sử, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng;

 

- Cần qui hoạch phát triển các đô thị, các chùm đô thị ven biển theo quan điểm đô thị sinh thái và phát triển bền vững;


- Các dự án phát triển đô thị, du lịch phải được khớp nối đồng bộ với tổng thể đô thị từ hệ thống hạ tầng kĩ thuật đến không gian đô thị. (Cần tránh phát triển các dự án nhỏ, lẻ, tiềm ẩn sự khu biệt, lạc lõng khó điều chỉnh trong tương lai và phá vỡ tổng thể chung…);

 

- Tập trung vốn và nguồn lực để phát triển các khu chức năng đô thị được xếp loại ưu tiên đầu tư hoặc trọng điểm;

 

- Xây dựng hệ thống các tiêu chí để phân loại các đô thị, các chùm đô thị ven biển của Việt Nam trong mối tương quan quốc gia, khu vực và quốc tế;

 

- Xem xét để bổ sung trong Tiêu chuẩn qui phạm ngành về các đô thị ven biển với những yếu tố đặc thù;

 

- Tổ chức Hiệp hội các đô thị, các chùm đô thị ven biển Việt Nam;

 

- Tổ chức các diễn đàn về qui hoạch xây dựng các đô thị, các chùm đô thị ven biển để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm.

 

Tài liệu tham khảo

- Qui hoạch xây dựng các đô thị Việt Nam, NXB Xây dựng, 1999

- Tạp chí Qui hoạch - kiến trúc - xây dựng, Đà Nẵng 26/12/2003

- Chiến lược phát triển 3 vùng kinh tế trọng điểm Quốc gia

- Các đồ án QHC xây dựng Hạ Long, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu

- Báo điện tử VietNamNet và một số tài liệu có liên quan khác

- ảnh tư liệu về Hawaii, ThS.KTS Ngô Trung Hải

- Với sự trợ giúp về sơ đồ, bản đồ minh hoạ, KTS. Đỗ Kim Dung

 

TS.KTS Trương Văn Quảng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài mới
  TS Đào Ngọc Nghiêm: 'Hà Nội chưa có lộ trình bảo tồn di sản thích hợp'
  Kiến nghị bảo tồn một phần thương xá Tax
  GS.TS Đặng Hùng Võ: “Trao cần câu, thay vì cho con cá”
  Được mua nhiều nhà sở hữu nhà nước
  Ông Nguyễn Văn Đực: Đề xuất cho công chức vay 2 tỉ đồng xây, mua nhà là 'hơi bị ...vô duyên'
Bài đã đăng
  Quản lý kiến trúc đô thị, những khía cạnh cần quan tâm
  NHỮNG BẤT CẬP KHI MỞ ĐƯỜNG TRONG ĐÔ THỊ
  Quản lý kiến trúc tuyến phố sau mở đường
  Cơ chế “Điều chỉnh đất” Kinh nghiệm từ nhật bản.
  Phát triển khu trung tâm thành phố hồ chí minh - NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM
 
QUẢNG CÁO
 
 

Website KIẾN TRÚC VIỆT NAM 

Cơ quan thiết lập: Tạp chí Kiến trúc Việt Nam
Địa chỉ:  Số 389 Đội Cấn - Ba Đình - Hà Nội

Điện thoại: 043.7620132   Email: tcktvn@gmail.com

Giấy phép của Bộ thông tin và truyền thông số 120/GP –TTĐT;        Người chịu trách nhiệm chính: Tổng biên tập Phạm Thị Thanh Huyền
Bản quyền thuộc về Tạp chí Kiến trúc Việt Nam. Ghi rõ nguồn khi lấy lại thông tin từ Website này.

Powered by Time Universal Communications
Liên hệ quảng cáo   |  Liên hệ